Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 20
Tháng 11 : 624
Năm 2019 : 8.538
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Sáng kiến của Trần Thị Hoa

Một số biện pháp để giờ luyện nói Ngữ văn có hiệu quả

SÁNG KIẾN

Một số biện pháp để giờ luyện nói Ngữ văn có hiệu quả

=======µ========

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN:

 1.Tên sáng kiến:

Một số biện pháp để giờ luyện nói Ngữ văn có hiệu quả

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: các tiết luyện nói trong sách giáo khoa ngữ văn 6 . Áp dụng cho học sinh lớp 6A,C trường THCS Tân Lập.

3. Tác giả:

Họ và tên: Trần Thị  Hoa- Nữ

Ngày sinh 23 tháng 06 năm 1978

Trình độ chuyên môn : Cử nhân văn học

Chức vụ: giáo viên trường THCS Tân Lập

Đơn vị công tác: Trường  THCS Tân Lập – huyện Vũ Thư – tỉnh Thái Bình Điện thoại :0984096979. Email: tranhoa979@gmail.com

 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị : Trường THCS Tân Lập

Địa chỉ :  xã Tân Lập – huyện Vũ Thư – tỉnh Thái Bình.   

Điện thoại : 0363.825.165.

5. Đồng tác giả: Không

6. Chủ đầu tư: Không

 7. Đơn vị áp dụng sáng kiến:

 Tên đơn vị : Trường THCS học Tân Lập

Địa chỉ :  xã Tân Lập – huyện Vũ Thư – tỉnh Thái Bình

8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 9 năm 2015.

           

 

                     

 BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp để giờ luyện nói ngữ văn có hiệu quả

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:  Trong công tác giảng dạy tại trường THCS Tân Lập

3. Mô tả bản chất của sáng kiến

3.1 Tình trạng và giải pháp

   Chắc hẳn trong mỗi chúng ta ai cũng nhớ câu nói bất hủ "Văn là người" của nhà văn Buphông. Quả thật như vậy ! Mặc dù trong thực tế giảng dạy Ngữ văn

ở nhà trường THCS hiện nay sau cải cách giáo dục, thay sách giáo khoa có phần quy mô lớn, nguyên tắc dạy văn là dạy người đã không còn chiếm vị trí độc tôn nữa, bởi môn học nào cũng là dạy người. Nhưng xét ở mọi khía cạnh của vấn đề môn Ngữ Văn có một sức mạnh riêng mà không một môn học nào có thể có được. Tuy nhiên hiện nay không ít học sinh đã "sợ" học môn học này vì theo các em đây là một môn học khó. Học môn Ngữ văn đã khó mà phân môn Tập làm văn lại càng khó khăn hơn nhiều. Thay vào việc trong những giờ Ngữ văn học sinh cũng tìm hiểu, trao đổi về những văn bản của các nhà văn có tên tuổi, những bài Tiếng Việt vốn vẫn được coi là "phong ba bão táp" cũng không bằng ấy, học sinh sẽ phải tiếp thu lĩnh hội kiến thức để rồi "sản sinh" ra sản phẩm văn chương của chính mình. Và để những sản phẩm đó đi vào lòng người đọc, các em không chỉ vận dụng kiến thức được học ở sách vở mà còn phải biết vận dụng kiến thức, vốn sống thực tế mà các em thu lượm được.Thực tế cho thấy , viết văn đã khó, luyện nói văn lại càng khó hơn. Hiện nay không ít học sinh viết văn được nhưng khi giao tiếp cần sự huy động ngôn ngữ phải nhanh nhạy, chính xác,diễn đạt phải mạch lạc ,ngắn gọn, dễ hiểu thì lại không nói được.Bởi vậy giờ luyện nói văn cho học sinh đã được chương trình SGK mới đưa vào tuy số giờ không nhiều nhưng mỗi giờ luyện nói đã góp một phần không nhỏ để nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh- những công dân tương lai của đất nước.Tuy vậy thực tế giảng dạy cho thấy nhiều giáo viên đã chưa coi trọng giờ học này. Một mặt có thể  một số giáo viên cho rằng thi viết chứ có bao giờ thi nói văn đâu, hoặc một số  giáo viên còn chưa hiểu hết tầm quan trọng của giờ luyện nói.Do đó giờ luyện nói thường bị bỏ qua hoặc thay vào đó là một giờ đọc bài viết văn mà học sinh đã chuẩn bị sẵn ở nhà.Trước thực tế này,là một giáo viên dạy Ngữ văn tôi  mạnh dạn đưa ra một số yêu cầu cụ thể của giờ luyện nói đồng thời đề xuất một số định hướng cụ thể về những bước cần thực hiện trong bài soạn một giờ luyện nói Ngữ văn để có được một giờ luyện nói văn có hiệu quả.

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

          a- Mục đích của giải pháp:

  Thực tế giảng dạy cho thấy nhiều giáo viên đã chưa coi trọng giờ học này. Một mặt có thể  một số giáo viên cho rằng thi viết chứ có bao giờ thi nói văn đâu, hoặc một số  giáo viên còn chưa hiểu hết tầm quan trọng của giờ luyện nói.Do đó giờ luyện nói thường bị bỏ qua hoặc thay vào đó là một giờ đọc bài viết văn mà học sinh đã chuẩn bị sẵn ở nhà.Trước thực tế này,là một giáo viên dạy Ngữ văn tôi  mạnh dạn đưa ra một số yêu cầu cụ thể của giờ luyện nói đồng thời đề xuất một số định hướng cụ thể về những bước cần thực hiện trong bài soạn một giờ luyện nói Ngữ văn để có được một giờ luyện nói văn có hiệu quả.

Để giờ luyện nói có hiệu quả mục đích của tôi muốn đề cập đến các vấn đề sau:

* Tầm quan trọng và đặc điểm của giờ luyện nói.

* Một số yêu cầu cụ thể của giờ luyện nói

*Định hướng cụ thể về những bước cần thực hiện trong bài soạn 1 giờ luyện nói ngữ văn sáng tạo cho học sinh lớp 6.

b-Nội dung giải pháp:

Để giờ luyện nói ngữ văn có hiệu quả là 1 việc làm rất cần thiết cho mỗi giáo viên đứng lớp.

b1. Tầm quan trọng và đặc điểm của giờ luyện nói.

Trong khó khăn chung của việc giảng dạy tập làm văn ở trường THCS việc giảng dạy giờ luyện nói cũng còn là vấn đề mắc mớ của nhiều giáo viên. Nhiều giáo viên cảm thấy giờ luyện nói tẻ nhạt, nhàm chán và không quan trọng. Hiện tượng làm việc tay đôi chỉ có giáo viên với học sinh được chỉ định là hoạt động, còn đa số là "im lặng", không chú ý gì đến giờ học. Nội dung giờ luyện nói thường bị bỏ qua, thay vào đó là những giờ trả bài làm văn viết kéo dài, hoặc có chăng chủ yếu cũng chỉ là việc làm đơn điệu: Giáo viên ra 1 đề văn và học sinh chuẩn bị 15 - 20 phút (Có thể ở nhà chuẩn bị trước) rồi giáo viên chỉ định một, hai học sinh lên trình bày. Học sinh nào nhận xét thì tốt, nếu không giáo viên hình thành một dàn bài mẫu và giờ luyện nói kết thúc.

Sở dĩ xưa nay giờ luyện nói chưa gây được sự chú ý của học sinh, chưa được giáo viên coi trọng là vì nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và đặc điểm của nó.

So với làm văn viết, luyện nói có những đặc thù riêng, thời gian cho học sinh chuẩn bị tương đối ít hơn. Hơn nữa, học sinh phải trực tiếp với một đối tượng giao tiếp hiện diện, khoảng cách giữa  tư duy và ngôn ngữ rút ngắn, đòi hỏi sự nhanh nhạy, linh hoạt, cơ động trong sự lựa chọn từ, sắp ý và diễn đạt. Đã thế trong giờ luyện nói, học sinh không những phải huy động những yếu tố cần thiết như trong một giờ làm văn cần thiết mà còn phải vận dụng nhiều yếu tố đặc thù của lời nói kết hợp với những hoạt động hình thể. Đặc trưng đó gây nên khó khăn riêng của một giờ luyện nói, nhưng mặt khác giờ luyện nói có cái hứng thú sinh động của nó mà làm văn viết không có được. Ngôn ngữ nói là một hình thức hoạt động giao tiếp thường ngày luôn diễn ra trong đời sống mỗi con người. Không phải ai cũng viết nhiều như nói trong đời sống, trong sinh hoạt xã hội, nghề nghiệp của mình. Trong giờ luyện nói hiệu quả lao động của học sinh được cảm nhận trực tiếp. Giờ luyện nói có thế mạnh của một học sinh hoạt động giao tiếp tập thể, không như làm văn viết là một hoạt động tĩnh, cá nhân. Không khí giờ luyện nói dễ kích thích hứng thú hoạt động của học sinh nếu giáo viên ý thức được ưu thế của giờ học này. Về tâm lý con người trong hoạt động tập thể bao giờ cũng năng động hơn.

Có thấy rõ đặc thù của hoạt động luyện nói và đặc điểm tâm lý học sinh trong giờ học này, giáo viên mới tiến hành có hiệu quả giờ học vốn rất sinh động hấp dẫn, hướng dẫn được cho những học sinh có tâm lý ngại ngùng phát biểu trước tập thể. Luyện nói là một cơ hội rất tốt để giáo viên hiểu thêm con người, tư tưởng học sinh trong lớp qua cách nói năng, tác phong diễn đạt. Đặc biệt, đối với những giáo viên giỏi, đây là những tình huống sư phạm để phát huy kết quả đào tạo học sinh về nhiều mặt, không chỉ về văn học.

Từ cách nghĩ như vậy chúng ta cần chú ý tới một số yêu cầu cụ thể ,thiết thực sau.

b2. Một số yêu cầu cụ thể của giờ luyện nói:

- Trước hết trong giờ luyện nói giáo viên không đơn thuần chỉ chú ý vào thủ thuật hay kỹ thuật nói năng. Đành rằng giờ luyện nói phải chú ý đến nhiều yêu cầu rèn luyện ngôn ngữ nói cho học sinh. Qua cách diễn đạt, qua phong cách, qua điệu bộ của học sinh, bản trình bày hay ý kiến phát biểu của học sinh chúng ta có cơ hội giáo dục uốn nắn về mặt ứng xử, đồng thời cũng bổ sung, điều chỉnh những kiến thức khác cho học sinh. Giờ luyện nói sẽ có ý nghĩa giáo dục toàn diện của nó tuy trọng tâm vẫn còn rèn luyện ngôn ngữ nói, phương pháp tư duy, nghệ thuật giao tiếp.

-  Hình thức lên lớp giờ luyện nói cần được đa dạng hoá nhằm phát huy tính chủ động và năng động sáng tạo của từng học sinh.

- Tuỳ thuộc vào điều kiện chuẩn bị của học sinh theo sự hướng dẫn của giáo viên, hoạt động của giờ luyện nói có thể có những hình thức khác nhau, mỗi hoạt động sẽ có những ưu, nhược điểm riêng:

b2.1. Chúng ta có thể tiến hành giờ luyện Ngữ văn bằng hình thức: Cả lớp chuẩn bị một vấn đề, nhưng giáo viên cho một vài học sinh (không nhất thiết là giáo viên) chuẩn bị kỹ hơn và trình bày trước tập thể. Lớp sẽ trao đổi và giáo viên tổng kết.

  Đây là hình thức luyện nói quen thuộc mà sách giáo khoa và sách giáo viên đã khẳng định, ở hình thức này ưu điểm vượt trội là học sinh chủ động hơn, các em được chuẩn bị bài ở nhà, thậm chí có thể luyện nói trước ở nhà, trước khi đến lớp trình bày. Mặt khác hình thức này chưa phát huy tốt khả năng tư duy nhanh nhạy kết hợp với kỹ thuật nói.

b2.2. Bên cạnh đó ta có thể lựa chọn hình thức: Đến lớp mới ra đề và học sinh tập chuẩn bị ngay trong 15 phút rồi phát biểu trao đổi.

Ở hình thức này rèn cho học sinh khả năng tư duy nhạy bén nhưng có thể nội dung bài chuẩn bị chưa chu đáo, thời gian luyện nói sẽ ít đi.

b2.3. Một hình thức khác: Giáo viên ra một đề bài và cả lớp cùng suy nghĩ, cùng xây dựng tại lớp.

Hình thức này phát huy tinh thần tập thể cao, học sinh được phép tự chọn 1 vấn đề trong nội dung bài để trình bày. Giờ học sẽ sôi nổi hơn.

b2.4. Ngoài ra chúng ta có thể lựa chọn hình thức: Có giờ trao đổi về một bài báo hay một bài văn của một bạn học sinh nào đó.

Đây là hình thức luyện nói mang tính sáng tạo, học sinh được tiếp cận với nội dung bài học qua việc trao đổi về bài báo viết về vấn đề nào đó có liên quan đến một nội dung nào đó mà chương trình các em đã được học. Hoặc 1 bài viết văn của một bạn học sinh trong lớp, lớp bạn (có thể là hay hoặc chưa hay). Như vậy sẽ rèn kỹ năng đánh giá, nhận xét của học sinh một cách trực tiếp.

Đối với những học sinh giỏi thì hình thức này rất phù hợp và mang lại hiệu quả giảng dạy cao. Nếu giáo viên tổ chức tốt được giờ luyện nói theo cách này sẽ phát huy tốt năng lực tư duy, cảm thụ văn chương của học sinh.

Việc nhận xét một bài làm của học sinh ở lớp mình hay một bài văn của một bạn lớp khác là cơ hội để tất cả các học sinh trong lớp nhận ra được ưu, nhược điểm trong từng bài viết cụ thể. Từ đó các em sẽ tự đánh giá nhận xét được mức độ đạt được bài viết của mình. Có thể nói khả năng đánh giá, nhận xét của học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 6 còn rất hạn chế; một phần là do chưa tự tin ở kiến thức của mình nên nhiều em chưa mạnh dạn đưa ra ý kiến cá nhân; nhưng có lẽ phần lớn là do HS chưa nắm tốt phương pháp làm bài. Khi thực hiện hình thức này là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rất rõ - những học sinh nào có khả năng đưa ra nhận xét, đánh giá xác đáng, chính xác đều là học sinh có năng lực viết văn tốt (HS đó không nhiều) còn một số học sinh chỉ nhận xét chung chung như "Bài của bạn viết tốt rồi", "Em thấy bài làm của bạn đúng theo yêu cầu của đề"… khi được hỏi cụ thể ở mặt nào ? thì học sinh không trả lời được. Lúc này theo tôi, giáo viên cần biết định hướng rõ những vấn đề cụ thể để học sinh nhận xét bởi không phải học sinh nào cũng có khả năng đánh giá, nhận xét tốt. Nếu thực hiện giờ luyện nói theo hình thức này, theo tôi giáo viên nên lựa chọn 2 bài viết tiêu biểu: một bài viết hay và một bài viết chưa hay. Nên chọn những bài viết có những ưu điểm mà học sinh trong lớp đó ít em làm được và chọn bài vếit có nhiều nhược điểm mà đại da số học sinh trong lớp thường mắc phải ở những bài viết tập làm văn. Như vậy các em sẽ có cơ hội nhận ra lỗi mà mình mắc phải để sửa chữa kịp thời.

Ngoài ra đối với học sinh học khá giỏi, giáo viên nên chọn thêm hình thức cho học sinh trao đổi về một bài báo được giáo viên lựa chọn viết về một vấn đề nào đó có liên quan đến nội dung nào đó trong chương trình của khối lớp mình dạy.

Ví dụ: Ở lớp 6, ta có thể lựa chọn những bài báo viết về thiên nhiên, môi trường với cuộc sống con người; những bài báo ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên đất nước ở từng vùng miền ; hoặc chỉ đơn giản là những câu chuyện xung quanh đề tài về tình cảm gia đình, bè bạn, trường lớp, quê hương… Tất cả những vấn đề đó đều rất gần gũi với các em; nếu làm tốt điều này không những chúng ta rèn cho các em được kĩ năng nhận xét, đánh giá, cảm nhận mà còn góp phần giáo dục nhẹ nhàng ý thức của mỗi học sinh.

Nói tóm lại về hình thức một giờ luyện nói Ngữ văn rất đa dạng, phong phú. Tự giáo viên có thể tìm tòi, không nên theo hình thức khuôn mẫu lặp lại nhiều lần như nhau dễ gây nhàm chán và không phát huy được khả năng sáng tạo độc lập của học sinh. Điều quan trọng là phải nắm vững đặc trưng của một giờ luyện nói và bảo đảm yêu cầu giáo dục toàn diện của một giờ học Ngữ văn trong nhà trường.

b3. Định hướng cụ thể về những bước cần thực hiện trong bài soạn một giờ luyện nói Ngữ Văn sáng tạo cho học sinh lớp 6.

Nội dung giờ luyện nói: Trao đổi về bài làm văn của học sinh.

A - MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:

* Kiến thức:

- Trình bày nội dung luyện nói 1 cách trọn vẹn.

*Kĩ năng:

- Rèn kĩ năng nói: nhanh nhẹn, linh hoạt, cơ động trong sự lựa chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt.

* Thái độ:

- Thông qua đó giúp HS nhận ra rõ ưu điểm và những hạn chế mà các em còn mắc phải khi viết bài để từ đó có hướng khắc phục.

B - CHUẨN BỊ:

* HS: Xem lại kiến thức về văn kể chuyện - đặc biệt dạng bài kể bằng ngôi kể thứ nhất một truyện dân gian đã học trong chương trình.

* GV:  - Giáo án:

            - Chuẩn bị bài viết văn hay và chưa hay của 2 HS, phô tô ra nhiều bản để phát cho HS tiện theo dõi để đánh giá, nhận xét.

C - TIẾN TRÌNH GIỜ LUYỆN NÓI:

1. Ổn định tổ chức

2. Bài mới.

* Giới thiệu bài:

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Ghi bảng

* HĐ 1: Đọc - tìm hiểu

Ví dụ:

Đề bài: Kể lại chuyện Thánh Gióng bằng lời của bà mẹ.

I. Đọc tìm hiểu đề bài:

Đề bài: Kể lại chuyện Thánh Gióng bằng lời của bà mẹ.

- GV: Phát cho mỗi HS 2 bản phô tô 3 bài viết văn hay và chưa hay của 2 HS.

- HS nhận bài.

 

- GV yêu cầu HS tự đọc thầm bài văn đó ít nhất 1 lần.

- HS đọc theo yêu cầu.

 

- GV hoặc 1 HS có giọng đọc tốt trong lớp đọc bài văn trước cả lớp.

- HS còn lại theo dõi trong giấy.

 

- GV hướng dẫn HS tìm hiểu để chuẩn bị cho việc trao đổi.

- HS thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ 2 người cùng bàn.

 

- Cụ thể GV định hướng cách nhận xét, đánh giá trên một số phương diện cơ bản.

 

 

(Chú ý: Có thể lựa chọn những nội dung trao đổi mà lớp mình dạy HS còn hạn chế)

- HS: Trao đổi theo 1 số đề xuất sau:

- Thể loại: Bài văn viết đúng thể loại văn kể chuyện chưa ?

 

 

 

GV nhắc nhở HS không nhất thiết phải chuẩn bị tất cả các yêu cầu. Có thể tâm đắc nhất với những yêu cầu nào thì chuẩn bị nội dung trao đổi theo yêu cầu đó.

- Xác định ngôi kể chính xác chưa ?

- Nội dung: kể đúng nội dung đề yêu cầu không ? Nội dung đầy đủ hay còn thiếu chi tiết nào ? Bổ sung.

- Trọng tâm: Bài viết đã biết nhấn vào trọng tâm (điểm sáng) của bài chưa ?

 

- Thời gian chuẩn bị nhanh (HS gạch ra giấy nháp nội dung cần trao đổi).

- Khi HS chuẩn bị nội dung trao đổi cần chú ý phải có sự đối chiếu giữa 2 bài viết.

- Bố cục: Bài viết đầy đủ 3 phần: Mở - Thân - Kết không ? Nhận xét việc thực hiện nội dung yêu cầu của từng phần như thế nào ?

 

- Mục đích của việc đối chiếu này để làm bật ra những ưu điểm và những tồn tại mà HS hay mắc phải khi làm bài.

Phần thân bài đã chia ý, phân đoạn tạo tính mạch lạc cho bài viết chưa hay còn viết tràn lan ?

 

 

? Cách triển khai ý trong đoạn có hợp lý và mạch lạc không ?

 

 

- Nhận xét về cách dùng từ, diễn đạt ý và liên kết câu ra sao ?

 

* HĐ 2: Trao đổi ý kiến:

 

II. Trao đổi ý kiến:

- GV có thể chỉ định HS trao đổi ý kiến theo các đề mục đã định hướng.

- HS trình bày ý kiến của bản thân hoặc của nhóm trên cơ sở những ý đã chuẩn bị.

(Yêu cầu: Nhanh nhẹn, linh hoạt, cơ động trong sự lựa chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt tốt nội dung cần trao đổi).

 

- GV định hướng - uốn nắn HS trong quá trình HS tham gia trao đổi ý kiến.

 

 

* HĐ 3: GV nhận xét, đánh giá chung và đưa ra kết luận của bản thân dựa trên những nội dung trao đổi mang tính khách quan của HS.

- HS ghi chép chắt lọc theo ý hiểu của mình.

 

Tiếc rằng giờ học Tập làm văn cho đến nay vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức của  cả chính người dạy và người học. Do đó hiệu lực giáo dục, giáo dưỡng rất mạnh mẽ của phân môn chưa được phát huy đúng mức. Sự non yếu về chất lượng học văn của học sinh phổ thông cơ sở, có một tầm quan trọng là do chất lượng dạy làm văn còn thấp, thấp cả về lý thuyết lẫn thực hành, cả về tinh thần, trách nhiệm lẫn kĩ thuật giảng dạy. Hy vọng với sự cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa lần này, chắc hẳn vị trí của phân môn Tập làm văn sẽ được chú ý hơn và người dạy cũng sẽ quan tâm tìm ra những phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc trưng bộ môn và đặc điểm tình hình học sinh lớp mình giảng dạy hơn nữa.Tuy nhiên việc học sinh hiện nay không thiết tha mấy với việc học môn Ngữ văn đã có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học môn học này .Các em thường thích học những môn học như Toán, Lý, Hoá hơn vì theo xu thế thời cuộc thì học những môn học này sẽ giúp các em có nhiều thuận lợi để lựa chọn nghành nghề .Từ đó các em thường ngại viết văn vì vậy khả năng văn chương của các em còn nhiều hạn chế. Đó là chưa nói đến  khả năng nói trong giao tiếp của các em. Vì vậy  với những kinh nghiệm trên  mà bản thân tôi đã rút ra trong  quá trình giảng dạy giờ luyện nói Ngữ văn hi vọng sẽ giúp  các giáo viên khác hiểu rõ hơn tầm quan trọng của giờ học này, để từ đó  mỗi giáo viên sẽ tự tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng đối tượng học sinh ở lớp mình ,góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học.

3.3 Khả năng áp dụng của giải pháp:

Từ thực tiễn áp dụng các giải pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của tiết luyện nói cho thấy thành công trong tổ chức hoạc tập phải có cả một hệ thống phương pháp, kĩ năng được áp dụng với từng giáo viên. Các giải pháp đã đề xuất  về quá trình giảng dạy 1 tiết luyện nói được xây dựng và đề xuất từ các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Một phần lớn là sự đúc kết kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. Do đó, các biện pháp này có tính khả thi và có thể áp dụng cho cácgiáo viên đứng lớp khác. Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp trên lại phụ thuộc vào người giáo viên giảng dạy biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của lớp thì sẽ đem lại kết quả cao đáp ứng mục tiêu tiết học đã đặt ra.

3.4-  Hiệu quả lợi ích thu được do áp dụng giải pháp.

Lúc đầu tôi gặp nhiều khó khăn trong việc giúp các em luyện nói. Đa số học sinh trả lời theo câu hỏi 1 cách thụ động, diễn đạt ý kém. Nhưng qua việc rèn những tiết luyện nói đến nay lớp tôi đã đạt được kết quả khá khả quan. Trong quá trình áp dụng vào thực tế giảng dạy tôi đã đạt được những kết quả sau:

- về phía giáo viên:

+ Tạo được không khí cho giờ học văn để tiết luyện nói không bị nhàm chán.

+ Phát hiện được tính tích cực của học sinh.

+ Đánh giá khả năng của học sinh 1 cách chính xác

- Về phía học sinh:

+ Phát huy được tính chủ động năng động sáng tạo

+ Rèn kĩ năng tự tin khi nói trước tập thể: các em nhận thức được cần phải lễ phép với người lớn, xưng hô đúng cách và sử dụng lời nói biểu cảm để bày tỏ sự lễ phép của mình. Các em biết chào khi mở đầu và khi kết thúc với 1 nội dung trọn vẹn, đầy đủ.

+ Rèn kĩ năng học sinh đánh giá nhau 1 cách trực tiếp

+ Học sinh giỏi có thể phát huy tư duy cảm thụ văn chương

+ Các em có thể học tập cách viết của nhau.

Về mặt kinh tế do sáng kiến này mang lạiKinh phí chi cho sáng kiến này không nhiều chỉ yêu cầu các em được đọc và tham khảo về nội dung.

          Về mặt xã hội do sáng kiến mang lại:   

  1- Sáng kiến  nêu được ý nghĩa tầm quan trọng của việc học tập

  2- Sáng kiến đã tìm được các giải pháp phù hợp có hiệu quả trong công tác giảng dạy

  3-Sáng kiến áp dụng giúp mở rộng tầm hiểu biết và rèn kĩ năng sống     cho thế hệ tương lai của đất nước.

          Trên đây là sáng kiến tôi đã và đang áp dụng tại trường THCS Tân Lập từ  tháng 9 năm học 2015 đến nay. Tôi khẳng định rằng bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan giáo viên tích cực tìm tòi, học sinh mở rộng tầm hiểu biết. Trong quá trình giảng dạy tôi sẽ cùng các em tìm thêm nhiều sách tham khảo để bổ xung vào tủ sách của lớp và các em có cơ hội được dọc nhiều hơn phục vụ cho tiết luyện nói có hiệu quả.

3.5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:

3.6 Các thông tin cần được bảo mật : (Không có)

3.7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

Về trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm trở lên.

Về cơ sở vật chất: Bao gồm : Kinh phí đóng tủ sách dùng chung và bổ xung sách tham khảo.

3.8 Tài liệu kèm ( Không có)

4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

          Tôi xin cam kết những nội dung trình bày trong sáng kiến là những suy nghĩ và việc làm của tôi và đã áp dụng vào trong thực tế tại trường THCS Tân Lập từ tháng 9 năm 2015 đến nay.

 

CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

(Xác nhận)

(Kí tên, đóng dấu)

 

Tân Lập , ngày 9 tháng 4 năm 2016

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

 

 

Trần Thị Hoa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phßng gi¸o dôc vò th­­

Tr­­êng T.H.C.S t©n lËp

         

      

  

 

B¸o c¸o s¸ng kiÕn

mét sè biÖn ph¸p ®Ó

giê luyÖn nãi ng÷ v¨n cã hiÖu qu¶

 

 

 

 

 


T¸c gi¶:            trÇn thÞ hoa

Tr×nh ®é chuyªn m«n: §¹i häc s­­ ph¹m

Chøc vô:           Gi¸o viªn

N¬i c«ng t¸c:         Tr­êng THCS t©n lËp

 

 

 

T©n lËp, ngµy 09 th¸ng 4 n¨m 2016

 

Tác giả: Trần Thị Hoa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan
Video Clip
Văn bản mới
Tài liệu mới